Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Cơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Cơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Cơ Lương gia hội, cao nghệ tuỳ thân


("Cơ Lương gia hội" là người có tay nghề cao)

"Cơ Lương gia hội cách" - tức Thiên Cơ Thiên Lương đồng thủ cung Mệnh.

Cổ ca:

Cơ Lương nhập miếu tối kham ngôn
Đắc địa giáo quân phúc lộc toàn
Diệu toán thần cơ ứng cái thế
Uy uy lẫm lẫm chưởng binh quyền.



(Cơ Lương nhập miếu khó nói hết đc điều tốt, vào đắc địa là thầy giáo dạy học cho vua phúc lộc vẹn toàn, có tài thần cơ diệu toán cái thế thiên hạ, khi chấp chưởng binh quyền uy danh lẫm liệt.)

Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung, chỉ có hai trường hợp, một là ở cung thìn, lúc này Thiên Cơ thừa lợi, Thiên Lương nhập miếu; một là ở tuất cung, cũng là Thiên Cơ thừa lợi, Thiên Lương nhập miếu, nhưng tuất không bằng thìn, bởi vì khi ở thìn cung thì hội hợp Thái Âm Thiên Đồng ở tý cung là miếu vượng, còn khi ở tuất cung hội hợp Thái Âm Thiên Đồng thất hãm ở cung ngọ. Vì lẽ đó chiếu theo giải thích của Vương Đình Chi, bản thân cách cục Thiên Cơ Thiên Lương tọa thìn cung không chỉ vào cách cục "Cơ Lương nhập miếu".

Cổ nhân đối với tinh hệ "Cơ Lương" này, khẩu quyết rất nhiều, như "Cơ Lương Tả Hữu Xương Khúc hội, văn vi quý hiển vũ trung lương", "Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung Thìn Tuất, tất hữu cao nghệ tùy thân"; "Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh"; "Cơ Lương đồng tại thìn tuất thủ mệnh, gia cát diệu, phú quý từ tường, nhược ngộ Dương Đà / Không diệu, thiên nghi tăng đạo."

Nhưng thật ra tổ hợp Thiên Cơ Thiên Lương, chủ chỉ người tò mò, thích sự lạ, biện luận gian trá, thích biểu hiện, hơn nữa đa phần không phụ họa ý kiến người khác. Ở thời xưa, có thể tư liệu sống, tài liệu thực tế nói viết, soi sáng không nhiều lắm, nhất là thường thấy văn nhân đàm luận binh pháp, cho nên mới có thuyết pháp "Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh".

Vương Đình Chi khi so sánh chú trọng thuyết pháp "tất hữu cao nghệ tùy thân", cái gọi là "cao nghệ", là nói có tay nghề kỹ thuật, thủ công mà thôi. Vào thời hiện đại, người có tổ hợp tinh hệ loại này tốt nhất là nên học tính toán máy móc hoặc làm nghề kế toán, thống kê.

(Nguồn: Vương Đình Chi Đàm Đẩu Số)

Cơ Lương thủ Mệnh có ba loại biến cục

Thiên Cơ tọa mệnh có một biến cục riêng là Thiên Cơ Thiên Lương đồng cung. Tại cổ thư đối với mệnh cách này có 3 câu bình luận:
- "Cơ Lương đồng cung Thìn Tuất, cao nghệ tùy thân"
- "Cơ lương thìn tuất gia cát diệu , phú quý từ tường" (Cơ Lương Thìn Tuất hội hợp thêm cát tinh, người hiền lành hưởng phú quý)

- "Cơ Lương thủ mệnh gia Hình Kỵ, thiên nghi tăng đạo" (Cơ Lương thủ mệnh thêm Thiên Hình Hóa Kỵ, nên theo đường tu hành hay đạo sỹ)

Ba đoạn bình luận này có thể thấy được cách Cơ Lương thủ mệnh, có biến hóa rất lớn.

Phân tích nguồn gốc đưa đến 3 câu phú này kỳ thật là xem xét chỉ từ hai tinh diệu này, so sánh xem sao nào (tác động) mạnh, ví như nếu Thiên Cơ cường, vậy đó là mệnh "cao nghệ tùy thân"; trái lại, nếu lực Thiên Lương cường, phùng cát diệu, tất "phú quý từ tường"; phùng Hình Kỵ tác động đến Thiên Cơ một cách mạnh mẽ, phát huy triệt để tính chất Thiên Cơ, cho nên dễ vào chốn không môn (cửa Phật).

Tọa Thìn Tuất hai cung, vốn là Thiên la địa võng, lực linh động của Thiên Cơ bị ảnh hưởng, bởi vậy chỉ có thể phát huy lực phân tích của Cơ mà thôi. Lại có người hiểu biết tra vấn, rất nhiều công trình sư cùng với giảng viên đều là loại mệnh cục này (đương nhiên không phải loại thường lên giọng chỉ biết phun nước miếng) có thể thấy được loại mệnh cục này tuyệt đối không tầm thường. Cổ nhân gọi là "cao nghệ tùy thân", thời hiện đại khả dĩ chỉ về "chuyên môn học vấn".

Nhưng tính chất Thiên Lương lại có khả năng ảnh hưởng đến Thiên Cơ thành tâm địa hiền lành, trầm mặc ít nói, phẩm tính thanh cao, (từ một người linh động thành người bị động) nên khiến mệnh cục khá kém, rơi vào trường hợp thợ thủ công, bản thân cũng nghiên cứu kỹ thuật rất tốt, thường đạt được nhiều sự tâm đắc. Hoàn một nổi, loại người này có 1 đặc điểm là không chịu đem những điều tâm đắc truyền cho người khác, ngay cả đồ đệ cũng không chịu truyền thụ, vì lẽ đó dù tâm địa thiện lương, nhưng lại thường dễ dàng chiêu oán.

Nếu như gặp Thiên Hình Hóa Kỵ, Thiên Cơ hoàn toàn bị thụ chế, lúc này lực lượng Thiên Lương phát huy cực độ, bản thân sẽ thiên về "hoang tưởng", thích suy tư vấn đề triết học, vì lẽ đó cổ nhân cho là "thiên nghi tăng đạo", kỳ thật thời hiện đại, điều này cũng không hiện thực lắm vì không phải mệnh cục một vị triết gia nào cũng nhất định xuất gia.  

Cơ Lương phối hợp, tinh diệu đã nhược, nhất định không nên gặp sát tinh, nếu không xử sự dễ lâm cảnh rối tinh rối mù, hơn nữa tâm linh lại hư không, không có gì để gởi gắm niềm tin.

(Nguồn: Vương Đình Chi Đàm Đẩu Số)

Sáu tình huống Thiên Cơ độc thủ Mệnh cung

Phàm Thiên Cơ độc tọa cung Mệnh, nhất định phải nghiên cứu cẩn thận cung nó đóng. Tổng cộng có sáu cung vị là "Thiên Cơ độc tọa", tức tý ngọ; sửu mùi; tị hợi, có thể đại khái chia làm ba tổ hợp:

- Tại tý, ngọ cung, Thiên Cơ nhập miếu, tức giống như có người cung phụng, tinh diệu rất trong sáng, cởi mở, tình huống này, người Thiên Cơ tọa mệnh có năng lực phân tích và khả năng linh động rất mạnh. Vương Đình Chi đoán mệnh cho một số công trình sư, y sư, luật sư thì đều thấy họ có cách cục này, có thể thấy được mệnh cục có cách cục này không tầm thường.

Nhưng mà cần phân biệt cẩn thận, xem xét các tinh diệu khác, coi khuynh hướng tính chất Thiên Cơ mạnh vào một phương diện nào, giống như xét mệnh Thiên Cơ lực linh động mạnh dễ có thể là luật sư mà không phải là công trình sư vậy; hay như nếu gặp tinh diệu hội hợp quá xấu, người này lại chỉ có thể là một nhân viên chào hàng nhanh nhạy. Bởi vậy, gặp mệnh cục tương tự phải nhìn ra khuynh hướng chức nghiệp của một người.

- Tại sửu, mùi, Thiên Cơ lạc hãm, tinh diệu quá tối vì thế mà lực linh động giảm bớt rất nhiều; để có thể phát huy năng lực phân tích, tốt nhất là nên gặp Xương Khúc - hai sao chủ thông minh, tất lực phân tích tăng mạnh, có thể tại sự nghiệp có cơ hội thể hiện. Nếu gặp phải một số sao xấu như Hóa Kị thì lực phân tích tất suy yếu đi; lực linh động đã bị khiếm khuyết, lực phân tích lại mơ hồ, thì không thể xác định là thượng cách (cách tốt).

- Tại tị, hợi thì trung bình, lực linh động và phân tích không bằng người Thiên Cơ nhập miếu, nhưng so với người Thiên Cơ lạc hãm (sửu mùi) vẫn còn tốt, đáng tiếc đối cung thấy sao Thái Âm thu hút tác động Thiên Cơ, khiến người có mệnh cục này, lực linh động hóa thành tiêu hao như theo đuổi một phương diện dị tính (khác thường, khác giới tính,...), còn lực phân tích cũng dùng như để phân tích tâm lý người khác giới, như đón trước tâm lý người khác để quan tâm, chăm sóc bằng vẻ ôn nhu, bằng không còn lại chỉ là tốt về những mưu toan, tính toán nhỏ vặt. Cổ thư ghi rằng: "Thiên Cơ tị hợi cung Mệnh phùng, hảo ẩm ly tông gian giảo trọng" (Mệnh có ThiênCơ tị hợi tuy lập nghiệp xa quê no ấm nhưng vẫn nặng về gian xảo).

Cùng cách cục tinh diệu, có thể không giống và biến hóa đa đoan, nhưng khi phân tích phải đứng trên bản chất đã có của nó, điều này độc giả cần lưu ý nhiều hơn.

Thiên Cơ thủ Mệnh là mẫu người linh động

Tại cổ bổn "Tử vi Đẩu số" sao Thiên Cơ được liệt vào "Nam đẩu đệ nhất tinh", mân phái gọi là "Nam đẩu đệ tam tinh". Bản chất thuộc âm, hóa khí là thiện tinh.
Tính chất cơ bản Thiên Cơ chủ về động, tính động của Cơ, Vương Đình Chi đã nói qua, cũng không có ý nói biến động trong cuộc sống, mà là chỉ linh động từ phương diện quan hệ giao thiệp đến tinh thần, hoặc chủ linh động trong làm việc đầu óc.
Cổ nhân đối với Thiên Cơ đánh giá không cao. Chỉ khi cùng Thiên Lương hội hợp, hơn nữa gặp được Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc thì mới thừa nhận là "Văn vi thanh hiển, vũ vi trung lương" cách. Vương Đình Chi cho rằng đánh giá này, chính yếu là sao Thiên Lương hội hợp đến, bởi vì sao Thiên Lương được cho là sao thanh hiển mà trung lương.
Ngoại trừ cách cục này ra, Thiên Cơ chủ "thoái tổ tự hưng" (tổ nghiệp bị suy thoái mà tự mình làm hưng thịnh), chủ tha hương phiêu bạt; ở nữ mệnh tất "Tuy phú quý diệc bất miễn dâm dật" (Tuy phú quý cũng khó tránh dâm dật), gặp sát tinh tất "Dâm tiện thiên phòng xướng tì chi mệnh , phủ tắc hình phu khắc tý" (là mệnh làm vợ nhỏ hay nữ dâm dật, xướng tỳ, nếu không cũng hình phu khắc tý). Chỉ nói vậy mà không chỉ ra căn cứ.

Ngày nay đánh giá sao Thiên Cơ tuyệt không quá xấu như lời cổ nhân, nguyên nhân tại vì hoàn cảnh xã hội cổ kim khác nhau rất nhiều. Thời cổ trọng đôn hậu, không trọng biến; trọng an phận thủ thành, không trọng cải cách, bởi vậy nói tính chất Thiên Cơ ứng biến, linh hoạt, sở trường cải cách, khá dùng đầu óc vào giải quyết sự việc không tâng bốc quá đâu.
Tại Đẩu số, có cách cục "Cơ Nguyệt đồng lương", tức là Thiên Cơ thủ mệnh ở hai cung dần thân, hội hợp ba sao Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương. Cổ quyết thuyết: "Cơ Nguyệt đồng lương tác lại nhân", nói cách khác, mệnh cục này là người đao bút (chuyên viết đơn), soạn kế sách công, cho nên thích hợp vào vai trò đao bút lại (người phụ trách việc văn thư). "Lại" không bằng "Quan", bởi vì lại chỉ là kẻ dưới tay quan để sai khiến, vì như vậy nhìn tổng thể cổ nhân đánh giá Thiên Cơ không bằng quan đứng đầu là người được xã hội thừa nhận quang minh chánh đại.
Xã hội ngày nay, Thiên Cơ có ý nghĩa ở chổ càng linh động càng dễ hòa nhập vào xã hội, đồng thời khi là người làm việc cho chánh phủ, mặc dù là thân phận lại nhân (công chức), địa vị xã hội cũng không được cao, vì thế ta nên đánh giá cao người có Thiên Cơ thủ mệnh. Cũng như càng phải chú ý đến họ bởi vì lý do đầu óc họ luôn năng động, có khả năng thích ứng nhanh với thời đại công nghệ, không thể đánh giá thấp được.
(Nguồn: Vương Đình Chi Đàm Đẩu Số)

Cự Cơ đồng lâm cũng có khuyết điểm

"Cự Cơ đồng lâm cách" - tức cung mệnh có Cự Môn và Thiên Cơ đồng thủ cung Mão Dậu. Cổ ca rằng:
Cự Môn miếu vượng ngộ Thiên Cơ
Cao tiết thanh phong thế hãn hi
Học tựu nhất triều đằng đạt khứ
Nguy nguy đức nghiệp chấn hoa di"
(Cự Môn miếu vượng gặp Thiên Cơ,  như đời gặp cảnh cây cao gió mát (hiếm), sự học thành tựu thẳng một đường phẳng lặng mà tạo sự nghiệp vẻ vang, vinh hiển.)

Thiên Cơ Cự Môn đồng cung một tại cung Mão, một tại Dậu. Cổ nhân bình: "Thiên Cơ dữ Cự Môn đồng cư mão dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng" (Cự Cơ mão dậu tất tổ nghiệp suy vi, tự mình phải vực dậy" hay như "Cơ Cự dậu thượng hóa cát giả, túng ngộ tài quan dã bất vinh" (Cơ Cự cư dậu hóa cát, nhưng Tài Quan cư đấy cũng khó vinh hiển), đổi lại cư Mão lại tốt hơn, nguyên nhân vì Thiên Cơ hành mộc, vào cung dậu thụ Kim khắc chế, không bằng tại Mão cung đắc được mộc vượng khí.

Bởi vậy có thể thấy trong "Cự Cơ đồng lâm" cách, Thiên Cơ mới thật sự là yếu tố mấu chốt, chủ yếu do Thiên Cơ chủ cơ biến, linh động, nếu Thiên Cơ bị khắc chế, kềm hãm tất Ám tinh là Cự Môn cũng khó mà dễ dàng dàn xếp ổn thỏa.

Song "Cự Cơ đồng lâm" dù có khuyết điểm, nhưng nó dễ linh động cho phù hợp với hoàn cảnh, có điểm xấu nữa là "đa học vô thành" (học nhiều mà không thành). Cổ ca khi nói sự học là "Học tựu nhất triều đạt đằng khứ", chỉ là cho rằng "học nghiệp thành tựu", chứ cho rằng nhất định thành quan công hầu bá, thì e rằng phải xem hậu thiên bổ cứu như thế nào đã.


"Cự Môn giao nhân, thủy thiện chung ác " (giao du với người Cự Môn, trước lành sau ác), thấy rằng "Cơ cự đồng lâm cách" có khuyết điểm riêng, nhưng nếu nhận biết rõ khuyết điểm ấy mà tiến hành tu chỉnh như gần người quân tử, xa lánh tiểu nhân, tất tự nhiên trở nên "cao phong lượng tiết" (thanh cao độ lượng) vậy.
(Nguồn: Vương Đình Chi Đàm Đẩu Số)

Luận về sao Thiên Cơ

LUẬN VỀ SAO THIÊN CƠ:
Mục “Chư tinh vấn đáp”, Thiên Cơ được gọi là sao giỏi tính toán mưu lược, quyền biến cơ mưu. Hoá khí của sao Thiên Cơ là “thiện”, thâm ý cổ nhân muốn nói tính chất mưu kế quyền biến đặt trên chính đạo hơn tà đạo
Trần Đoàn viết “Thiên Cơ giao hội Thiên Lương Xương Khúc, văn thì thanh hiển, vũ trung lương” nhưng cũng viết tiếp “nếu rơi vào đất hãm, bị tứ sát xung phá là hạ cách”
Đa số chủ tinh đều có hoá khí – ví dụ Phá Quân hoá khí là “Hao” – Thiên Tướng hoá khí là “Ấn”. đi thuận chiều hoá khí mới đắc dụng
Thiên Cơ thuộc âm mộc, mộc của hoa cỏ mềm mại dễ uốn và lay động. Tư tưởng mẫn tiệp, ưa nghĩ ngợi, nghi ngờ, phản ứng mau lẹ, nóng nảy. Kết hợp những điểm trên, Thiên Cơ lúc hành động dễ mắc vào tình trạng dễ nóng vội, dù kế hoạch thấu đáo mà tự mình làm không thành. Thiên Cơ vì hiếu động nên cuộc sống ba động luôn
Thiên Cơ là sao Nam Đẩu, Thiên Cơ thủ Mệnh thông minh sáng suốt, hiếu học, hiếu động, tâm địa từ thiện, vì quá hiếu học, cái gì cũng học nên học rộng mà không tinh. Thiên Cơ đa tài đa nghệ, làm mưu sĩ được, làm con người hành động không hay. Vào nghiên cứu tốt, ở vị trí chỉ huy bình thường
Thiên Cơ nhạy cảm, sức đối kháng không lì lợm nên không hợp với Hoả Linh, Kình Đà, Không Kiếp và sợ nhất Hoá Kị. Gặp Hoá Kị, Thiên Cơ dễ biến ra không tưởng, ảo tưởng, khó nắm bắt thực tế
Thiên Cơ đứng một mình ở Tí, Ngọ, Tị, Hợi, Sửu, Mùi; đứng cùng Thái Âm tại Dần Thân; đứng với Cự Môn ở Mão Dậu; đồng cung với Thiên Lương ở Thìn Tuất
Trước hết nói về Thiên Cơ Cự Môn đồng cung, tức là Cơ Cự đồng lâm. Cách này có những nét đặc thù, không thể không chú ý. Cổ Ca viết: “Với Cự Môn đứng chung, khả dĩ vào vũ chức mơi biên ải, cần phải thêm quyền phùng sát để lập công danh”. Như thế Cổ Ca muốn nói rằng Cơ Cự được Hoá Quyền, mà gặp Tứ Sát không phải ở bản cung mà ở tam hợp chiếu, chủ quý hiển về võ chức
Qua kinh nghiệm thì cách cuộc trên mang nhiều biến hoá, nếu Thiên Cơ Hoá Lộc lại không thành võ nghiệp, chỉ mưu sinh dư dả phong lưu. Cự Cơ Hoá Lộc mà gặp Hoả Linh, kể luôn cả chuyện mưu sinh cũng thăng trầm vô độ, hoặc danh lợi hư ảo. Như vậy, cách Cơ Cự cần Hoá Quyền hơn Hoá Lộc. Trường hợp bị Hoá Kị kể như hỏng
Thiên Cơ bên cạnh Thiên Lương, cổ nhân gọi bằng cách “Cơ Lương gia hội”
“Cơ Lương Xương Khúc, văn thanh hiển, vũ trung lương
Cơ Lương giao hợi thiện đàm binh
Thiên Cơ cánh phùng Thiên Lương tất hữu cao nghệ tuỳ thân
Thiên Cơ Thiên Lương đồng tại Thìn Tuất thủ Mệnh, gia cát diệu, phú quý từ tường nhược ngộ Kình Đà, Không Kiếp thiên nghi tăng đạo”
Cách Cơ Lương nhiều biến thái như thế đấy, có thể viết lý thuyết, ra binh lược, có thể đạt một nghề nghiệp ở mức cao, có thể phú quý, có thể thành người tu hành . Cổ Ca viết “Thiên Cơ đứng cùng Thiên Lương, có khuynh hướng đạo với tăng, nữ mệnh gặp phải, tính dâm bôn”. Ý cổ nhân muốn nói rằng nữ mạng không nên có Cơ Lương. Cổ nhân hơi quá đáng khi dùng hai chữ dâm bôn. Cơ Lương bất quá chỉ là con người khéo léo đến mức sắc sảo khi thủ mệnh nữ. Không phải cứ Cơ Lương là dâm dật. Hợp tác với người nữ Cơ Lương hãy cẩn  thận. Cơ Lương chỉ thật sự dâm dật nếu gặp Kình Đà Hoá Kị mà thôi
“Kình Đà Hoá Kị phá xung
Lại là dâm dật tư thông âm thầm”
Gặp Kình Đà Hoá Kị, trai tăng đạo, nữ dâm bôn, khác nhau ở điểm này. Về mấy chữ “thiên nghi tăng đạo" cũng có thể hiểu là một người thông hiểu về tôn giáo triết học hoặc thuật âm dương tướng số. Đừng nghĩ hai chữ tăng đạo qua hình ảnh mặc áo nâu sồng quét lá đa trong chùa
Cách phổ biến của Thiên Cơ có Cơ Nguyệt Đồng Lương. Sách nói: Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân (Mệnh hội tụ đủ bộ sao Thiên Cơ, Thiên  Lương, Thiên Đồng, Thái Âm thì làm người phụ giúp cơ quan chỉ huy). Chuyển vào hiện đại ngữ thì là công chức, rồi đoán cách ấy hiển hiện thành con người đi làm ba cọc ba đồng hàng tháng lĩnh lương. Không phải vậy, chữ “lại” cho bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương còn mang ý nghĩa thâm thuý sâu sắc hơn. “Lại nhân” thời xưa là loại người ưa lộng quyền trong phạm vi quyền lực của hắn, Tây Phương coi bọn lại nhân như một thế lực thư lại. Lại nhân giỏi cơ biến, có mưu lược, ăn nói mồm mép, tham tiền, khéo dụng quyền thuật. Nếu chỉ coi như vị công chức thì cái nghĩa đó quá hiền lành, e không lột được thâm ý Cơ Nguyệt Đồng Lương
Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ giỏi phục vụ, mượn quyền mượn thế, không bao giờ làm được kẻ khai sáng. Số Cơ Nguyệt Đồng Lương khả dĩ dùng làm thủ túc rất tốt. Cơ Nguyệt Đồng Lương chính là cách mà Thiên Cơ đứng chung với Thái Âm tại Dần hay Thân. Cổ Ca viết: “Thiên Cơ Thái Âm đồng cư Dần Thân, nan miễn bạt tha hương” (Thiên Cơ Thái Âm đứng chung ở hai cung Dần Thân tất có ngày lưu lãng quê người). Lưu lãng cùng tình trạng với phù động. Do vậy mệnh nữ Thiên Cơ Thái Âm thì tình cảm không chuyên nhất, dễ biến tâm
Có một điểm chung, người nữ Thái Âm bao giờ cũng xinh và khéo. Cơ Âm mà ở Thân tốt hơn ở Dần. Vì Thân đắc vị cho Thái Âm. Cơ Âm nếu gặp Hoá Quyền vào ngành tài chính kinh thương thành công. Cơ Âm gặp Hoá Khoa học vấn nghệ thuật hợp cách. Cơ Âm Hoá Lộc làm ăn khá giả nhưng thường lao tâm khổ tứ về tiền, thần kinh bén nhạy đưa đến suy nhược vì nghĩ ngợi
Bây giờ đến những cách Thiên Cơ độc toạ Mệnh. Thiên Cơ đứng một mình tốt nhất ở hai cung Tí và Ngọ. Vì hai cung này là đất miếu của Thiên Cơ, mặt khác vì nó kết với Cự Môn từ cung xung chiếu Ngọ với Tí là đất vượng của Cự Môn. Thiên Cơ tại Tí Ngọ thi triển được toàn bộ khả năng của nó, Khả năng giải quyết công việc, khả năng thuyết phục, khả năng phản ứng mau với những bất ngờ, khả năng học vấn thi cử
Vấn đế còn lại là việc của Khoa Quyền Lộc. Quyền cần thiết nhất, Khoa thứ nhì, Lộc thứ ba. Trường hợp gặp Hoá Kị, cái thế của Thiên Cơ Tí Ngọ giảm hẳn. Sở dĩ Hoá Quyền cần thiết với Thiên Cơ khgông phải vì bản thân Thiên Cơ mà vì sao Cự Môn xung chiếu. Cự Môn thiếu Hoá Quyền sức mạnh kém (sẽ nói thêm khi bàn về Cự Môn). Với Hoá Kị, Cự Môn càng bị phiền hơn. Thiên Cơ đóng Sửu hay Mùi kể như vào thế hãm địa. Thiên Cơ Sửu Mùi nên an phận
Nếu như không được Tả Hữu, Xương Khúc hoặc Khoa Quyền Lộc trợ giúp, chỉ loanh quanh với tiểu chức. Nếu bị Hoả Linh, Không Kiếp hoặc Hoá Kị ám hại sẽ không tránh khỏi tâm tư hoảng loạn, tình cảm thống khổ
Sách đời sau đưa ra cách Thiên Cơ thủ Mệnh đóng tại Tị và Hợi, nếu gặp phụ tinh hay thì sang quý, có sát tinh biến thành con người gian tà tiểu nhân
Sau đây cần luận thêm bản chất Thiên Cơ:
  •           Đa học đa năng về suy tư nhưng cũng dễ có xu hướng ảo tưởng
  •           Đa biến nên khó mà theo đuổi nghề nghiệp, công việc, lý tưởng nào lâu dài
  •        Thuộc Ất Mộc, mộc của hoa cỏ nên dễ xung đông, thường tạo cho bề ngoài đẹp đẽ, nói năng thuyết phục được người nghe, ít có bụng chân thành mà cảm phục ai, thông minh mà thường dễ bị cái thông minh của mình làm mình nhầm

Có một cách về Thiên Cơ không thấy ghi các sách Hán mà mà lại rất phổ biến trong khoa Tử Vi Việt là Thiên Cơ gặp Khốc Hư đưa đến bệnh lao phổi lao xương
Một số câu Phú cần chú ý:
  •           Thiên Cơ ở Sửu Mùi lầm thế hãm, nhưng nếu được nhiều sao của hành Thuỷ thì cũng nên công vì Thiên Cơ thuộc Mộc lại ở cung thấp thổ nên có thêm nước thì cây khả dĩ đâm chồi nảy lộc, nhưng Thiên Cơ ở Mùi thuộc cung táo thổ dù gặp nước cũng vô ích
  •           Thiên Cơ ở Dần tất đi cùng Thái Âm, lại có Tấu Thư, Hồng Loan mà gặp cả Lộc Tồn hay Hoá Lộc, Quốc Ấn, người nữ lấy chồng sang trọng, quyền thế. Vì Cơ Âm Hồng là người đàn bà đẹp, đa tình, khôn khéo, Tấu Thư có duyên, giỏi nịnh, đàn ngọt hát hay, còn thêm Lộc Ấn là những may mắn thì chuyện cận cửu trùng đâu khó
  •          Cung Thìn lập Mệnh Cơ Lương thủ, người nữ tuổi giáp Nhâm sinh con nhiều nhưng ăn ở không vừa bụng chồng. Người Nam tuổi Ất Quý làm ăn có tiền, vinh hiển nhưng lại gặp vợ lăng loàn
  •             Nữ mệnh Cơ Nguyệt tại Dần Thân mà lại thêm Xương Riêu hay nghĩ đến chuyện dâm
  •           Mệnh mang cách Cơ Nguyệt Đồng Lương mà người tuổi Kỷ, vận hạn gặp Sát Phá Tham thì lại đột phá công danh. Ý chỉ Mệnh có Khoa gặp vận Hoá Quyền
  •           Thiên Cơ gặp Thiên Mã tại Thiên Di cung, thường làm việc ở nước ngoài, nơi xa quê hương bản quán
  •          Thiên Cơ Hư Khốc chẳng màng; phổi kia hãy phải lo toan lấy mình

 (Nguồn: Tử Vi Tinh Điền - Vũ Tài Lục)